Tổng quan

Tại Hy Lạp, tất cả mức tiêu thụ năng lượng giảm gần 12% từ năm 2000 đến năm 2022. Ngành vận tải là ngành tiêu thụ lớn nhất, chiếm 39% mức sử dụng năng lượng trong năm 2022 và đã giảm được 6% trong giai đoạn năm 2000 đến năm 2022. Khu vực dân cư là ngành tiêu thụ lớn thứ hai, chiếm 28% mức năng lượng tiêu thụ toàn quốc gia, nhưng chỉ đạt mức giảm khoảng 1%. Ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng 14% của mức tiêu thụ năng lượng cuối cùng và đã tăng khoảng 72% (ảnh 1).

Hình 1: Tiêu thụ năng lượng cuối cùng theo các ngành (với các điều chỉnh khí hậu)

Trong giai đoạn năm 2000 đến năm 2022, hiệu quả năng lượng được đo bởi chỉ số ODEX, cải thiện 35%, khoảng 1,9%/năm (ảnh 2). Cải thiện lớn nhất (tức là giảm ODEX) được ghi nhận ở ngành vận tải (không bao gồm vận tải hàng không quốc tế) và ngành công nghiệp với mức giảm lần lượt là 2,6% và 2,4%/năm, hiệu suất của hộ gia đình tăng chậm hơn nhiều, chỉ 1,5%/năm, trong khi ngành dịch vụ không có sự cải thiện. Việc thực hiện các biện pháp cùng với tác động của suy thoái kinh tế là những lý do chính dẫn đến sụt giảm chỉ số ODEX.

Hình 2: Chỉ số Hiệu quả Năng lượng Kỹ thuật

Tổng mức tiết kiệm năng lượng tại Hy Lạp đạt 81.41TWh vào năm 2022, tăng 1,8% so với những năm trước, và đã ghi nhận xu hướng tăng liên tục kể từ năm 2000.

Hình 3: Tiết kiệm năng lượng theo ngành

Ở Hy Lạp, tổng cung năng lượng đã giảm 25% vào năm 2022 so với năm 2000. Các tác động chính của sự sụt giảm này bao gồm bởi mức giảm 27.9  năng lượng tiêu thụ cuối cùng cho các mục đích sử dụng năng lượng, giảm 44.2 TWh năng lượng tiêu thụ ròng của ngành điện (bao gồm cả đồng phát điện), giảm 5.8  năng lượng tiêu thụ từ các nguồn chuyển đổi năng lượng khác (ngành hydrocarbon và than đá, hệ thống sửa khu vực không đồng phát điện) và giảm 3.5  (triệu tấn) năng lượng tiêu thụ cho các mục đích sử dụng phi năng lượng. Sự sụt giảm lớn về mức tiêu thụ ròng của ngành điện chủ yếu là do sự thâm nhập của năng lượng tái tạo (-30.2 TWh) và việc thay thế than non bằng khí đốt cho nhiệt điện (12.8 TWh).

Hình 4: Những yếu tố chính ảnh hưởng đến sự biến đổi tổng cung năng lượng

Tại Hy Lạp, mức tiêu thụ năng lượng đã giảm xuống 13% vào năm 2022 so với năm 2000. Tiết kiệm năng lượng đóng góp đáng kể, giảm 81.41 TWh, giúp hạ mức tiêu thụ năng lượng cuối cùng. Hoạt động kinh tế bao gồm các yếu tố như thay đổi giá trị gia tăng trong tất cả các ngành, làm tăng tiêu thụ cuối cùng thêm 22.1 TWh, tiếp theo là mức tăng 14 TWh do các tác động cơ cấu trong ngành công nghiệp và dịch vụ, cũng như sự dịch chuyển phương thức vận tải. Các yếu tố khác đạt 20.1 TWh vào năm 2022, bao gồm hành vi của các hộ gia đình, giá trị sản phẩm trong ngành công nghiệp, năng suất lao động trong dịch vụ và “tiết kiệm âm” do hoạt động kém hiệu quả trong ngành công nghiệp và vận tải.

Hình 5: Những yếu tố chính ảnh hưởng đến sự biến đổi tiêu thụ năng lượng cuối cùng

Theo Điều 7 của Chỉ thị Hiệu quả Năng lượng (EED), Hy Lạp có mục tiêu đạt mức tiết kiệm năng lượng tích lũy 3.333 nghìn tấn dầu quy đổi (ktoe) hay 140 PJ trong giai đoạn 2017-2020. Trong Kế hoạch Hành động Hiệu quả Năng lượng Quốc gia năm 2017, chính phủ đã nêu ra một số biện pháp trong các lĩnh vực khác nhau để đạt được mục tiêu này. Dữ liệu về mức tiết kiệm năng lượng đạt được cho thấy Chương trình Nghĩa vụ Hiệu quả Năng lượng (EEOS) của Hy Lạp đã vượt mục tiêu 14 PJ, đạt 61,4 PJ mức tiết kiệm năng lượng tích lũy.

Chương trình EEOS của Hy Lạp bắt đầu từ năm 2017 và do CRES quản lý. Các bên có nghĩa vụ tham gia bao gồm các nhà cung cấp hoặc nhà bán lẻ điện, khí đốt, sản phẩm dầu mỏ có thị phần lớn hơn 1%. Số lượng các bên tham gia là 35 vào năm 2022. Từ năm 2017 đến 2020, EEOS đã vượt mục tiêu giảm nhu cầu 80%, với mức tiết kiệm hàng năm tăng từ 7,3 PJ lên 36 PJ.

Một chu kỳ tiết kiệm năng lượng mới được kỳ vọng theo EED cho các quốc gia EU từ năm 2021 đến 2030. Hy Lạp được kỳ vọng sẽ đạt mức tiết kiệm năng lượng tích lũy 7.299 ktoe hay 305 PJ vào cuối giai đoạn này.

Biện pháp Miêu tả Tiết kiệm dự kiến, đánh giá tác động
Thúc đẩy hệ thống sưởi ấm và làm mát từ hệ thống RES và CHP để tự tiêu thụ Lắp đặt hệ thống sưởi và làm mát từ Nguồn Năng lượng Tái tạo (RES) và hệ thống Đồng phát Điện và Nhiệt (CHP) cho mục đích tự tiêu thụ nhằm cải thiện hiệu quả năng lượng trong các ngành công nghiệp sản xuất và thủ công, dịch vụ, du lịch và vận tải biển. 0.61 TJ
Tái cấu trúc đô thị theo thiết kế sinh khí hậu Biện pháp này thúc đẩy cách tiếp cận sáng tạo trong thiết kế các tòa nhà và cảnh quan dựa trên khí hậu địa phương, bao gồm sử dụng sưởi ấm bằng năng lượng mặt trời, che nắng, thông gió tự nhiên và vật liệu xây dựng phù hợp, cũng như phủ xanh đô thị để tạo độ trễ nhiệt và lưu trữ. Là phần mở rộng của thiết kế sinh khí hậu, các khu vực đô thị và nông thôn được ưu tiên về sức khỏe, an toàn, chuẩn bị cho các tòa nhà, cộng đồng và khu vực ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu bằng cách thêm các biện pháp phòng ngừa. 0.61 TJ
Chương trình nghĩa vụ hiệu quả năng lượng  Các chương trình Nghĩa vụ Hiệu quả Năng lượng (EEOS) là cơ chế áp dụng yêu cầu cho các “Bên có Nghĩa vụ” (OPs) nhằm đạt được các mục tiêu tiết kiệm năng lượng định lượng trong danh mục khách hàng của họ. Các OP có thể là công ty bán lẻ năng lượng, nhà phân phối năng lượng, nhà phân phối nhiên liệu vận tải hoặc nhà bán lẻ nhiên liệu vận tải. 3.04 TJ

Các công trình

Tại Hy Lạp, mức tiêu thụ năng lượng cuối cùng của khu dân cư và dịch vụ có hiệu chỉnh khí hậu là 76.8 TWh vào năm 2022; tăng 16% so với năm 2000. Các hộ gia đình đóng góp ⅔ mức tiêu thụ này vào năm 2022.

Hình 6: Tiêu thụ năng lượng cuối cùng trong các tòa nhà (có điều chỉnh theo khí hậu)

Tại Hy Lạp, tổng tiêu thụ năng lượng của các hộ gia đình đạt 51.7 TWh vào năm 2022, giảm 1% so với năm 2000. Sưởi ấm không gian đóng góp 58% vào sự tiêu thụ năm 2022, tiếp theo là các thiết bị điện và chiếu sáng (17%), bình nóng lạnh (17%), nấu ăn (6%) và điều hòa (4%).

Hình 7: Tiêu thụ năng lượng theo mục đích sử dụng cuối của hộ gia đình (có điều chỉnh theo khí hậu)

Ở Hy Lạp, mỗi đơn vị tiêu thị năng lượng trên mỗi mét vuông để sưởi ấm (điều chỉnh theo điều kiện khí hậu bình thường) đã giảm 1,3%/năm trong giai đoạn 2000-2022, chủ yếu nhờ việc cải tạo tòa nhà hiện có và thay đổi hành vi (suy thoái kinh tế, nghèo năng lượng…), đạt 6,7koe/m2 vào năm 2022.

Hình 8: Tiêu thụ năng lượng cho sưởi ấm không gian hộ gia đình trên mỗi m2 (có hiệu chỉnh theo khí hậu)

Tại Hy Lạp, mức tiêu thụ điện và chiếu sáng trên mỗi hộ gia đình đã tăng 14% trong giai đoạn 2000-2022, trong khi mức tăng 36% được ghi nhận đối với bình nóng lạnh. Tương tự, mức tiêu thụ điện cho nấu ăn và làm mát không khí trên mỗi hộ gia đình đã tăng lần lượt 12% và 265% trong giai đoạn 2000-2022. Tuy nhiên, tất cả các số liệu đều rất thấp vào năm 2022, ở mức 0,18 toe/dw đối với thiết bị điện và chiếu sáng, 0,16 toe/dw đối với nước nóng, 0,06 toe/dw đối với nấu ăn và 0,04 toe/dw đối với làm mát không khí.

Hình 9: Mức tiêu thụ năng lượng trên mỗi căn hộ theo mục đích sử dụng (trừ sưởi ấm không gian)

Tổng năng lượng tiêu thụ trên mỗi hộ gia đình theo mục đích sử dụng cuối cùng là 3,945 kWh/dw vào năm 2022, tăng 14% so với năm 2000. Vào năm 2022, các thiết bị điện và chiếu sáng đóng góp 52% ​​vào mức tiêu thụ điện năng trên mỗi hộ gia đình trong đơn vị này, nhiều hơn mức sử dụng nhiệt (37%), trong khi 11% còn lại tương ứng với làm mát không khí.

Hình 10: Mức tiêu thụ điện năng theo hộ gia đình theo mục đích sử dụng (có điều chỉnh theo khí hậu)

Tại Hy Lạp, tổng mức tiêu thụ năng lượng trong khu dân cư giảm 2.6 TWh  (-4,9%) từ năm 2000 đến 2022, đạt 50 TWh vào năm 2022. Tiết kiệm năng lượng đã làm giảm tổng mức tiêu thụ của khu dân cư xuống 17.7  trong cùng kỳ. Chênh lệch khí hậu đã làm giảm mức tiêu thụ xuống 2.6 TWh (năm 2022 ấm hơn năm 2000), trong khi tất cả các yếu tố khác đều góp phần làm tăng mức tiêu thụ. Cụ thể hơn, số lượng nhà ở có người ở đã làm tăng mức tiêu thụ thêm 5.2 TWh, sự tiến bộ trong việc sở hữu các thiết bị gia dụng đã dẫn đến mức tăng 10.8 , trong khi diện tích sàn trung bình trên mỗi căn hộ đã làm tăng mức tiêu thụ thêm 1.9 TWh.

Hình 11: Các yếu tố chính gây biến động tiêu thụ năng lượng trong các hộ gia đình

Tổng mức tiêu thụ nhiệt sưởi ấm trong khu dân cư giảm 7.1 TWh (-20% từ năm 2000 đến năm 2022), đạt 29 TWh vào năm 2022. Tiết kiệm năng lượng đã làm giảm tổng mức tiêu thụ nhiệt sưởi ấm xuống 13.7 TWh, trong khi thay đổi khí hậu làm giảm mức tiêu thụ xuống còn 2.6 TWh. Tất cả các yếu tố khác đều góp phần làm tăng mức tiêu thụ.

Hình 12: Các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự biến động tiêu thụ sưởi ấm không gian của hộ gia đình

Mức tiêu thụ năng lượng và điện trên mỗi nhân viên trong ngành dịch vụ (có điều chỉnh theo khí hậu) cho thấy xu hướng tương tự trong giai đoạn 2000-2022, tăng 23% (0,9%/năm) về mức tiêu thụ năng lượng trên mỗi nhân viên và tăng 7% về mức tiêu thụ điện trên mỗi nhân viên vào năm 2022.

Hình 13: Mức tiêu thụ năng lượng và điện năng theo nhân viên trong lĩnh vực dịch vụ (có điều chỉnh về khí hậu)

Cải thiện hiệu quả năng lượng trong lĩnh vực nhà ở là sự kết hợp giữa các biện pháp quản lý đối với các tòa nhà mới, trong đó đặt ra các yêu cầu cách nhiệt nghiêm ngặt hơn và các yêu cầu tối thiểu về hiệu suất của hệ thống sưởi ấm và làm mát cũng như sản xuất nước nóng, đồng thời hỗ trợ các biện pháp cải tạo nhà hiện có. Chương trình “Tiết kiệm tại nhà” là một chương trình quốc gia dành cho lĩnh vực nhà ở, cung cấp hỗ trợ tài chính cho các can thiệp về vỏ bao che công trình, hệ thống sưởi ấm/làm mát và lắp đặt năng lượng tái tạo (RES) để sản xuất nước nóng sinh hoạt. Chương trình được triển khai lần đầu tiên vào năm 2011 và hình thức hỗ trợ tài chính là trợ cấp từ 15% đến 70% dựa trên tiêu chí thu nhập, với khoản vay lãi suất thấp cho phần đầu tư còn lại. Yêu cầu cơ bản của chương trình là việc ban hành EPC trước và sau khi can thiệp.

Các biện pháp  Miêu tả Tiết kiệm dự kiến, đánh giá tác động
Chương trình “Điện mặt trời trên mái nhà” Chương trình “Điện mặt trời áp mái” giúp hàng ngàn hộ gia đình và nông dân tạo ra nguồn điện cần thiết và tiết kiệm chi phí. Đối tượng hưởng lợi của chương trình là các hộ gia đình và nông dân, những người sẽ có thể tự lắp đặt hệ thống điện mặt trời nhỏ kết hợp với hệ thống lưu trữ (pin).  0,54 TJ
Dán nhãn năng lượng cho thiết bị và yêu cầu hiệu suất năng lượng tối thiểu – Khu vực dân cư Dán nhãn năng lượng là một yếu tố then chốt giúp người tiêu dùng lựa chọn các sản phẩm tiết kiệm năng lượng hơn, đồng thời khuyến khích các nhà sản xuất đổi mới công nghệ bằng cách sử dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng hơn. 0,18 TJ
Chương trình “Tái chế – Đổi bình nóng lạnh” Thông qua chương trình này, các hộ gia đình thụ hưởng sẽ được nhận trợ cấp để thay thế các bình nóng lạnh điện tiêu thụ nhiều năng lượng bằng các bình nước nóng sử dụng công nghệ hiện đại, bình nóng lạnh năng lượng mặt trời. 0,54 TJ

Nguồn tham khảo: ODYSSEE-MURE, “Country profiles: EU Energy Efficiency & Trends policies