Tổng Quan
Năm 2022, mức tiêu thụ năng lượng cuối cùng ở Estonia là 31.84 TWh, tăng 11% so với năm 2000. Khu vực dân cư là khu vực tiêu thụ năng lượng lớn nhất, đã giảm 3,7 ppvề thị phần trong tổng mức tiêu thụ năng lượng cuối cùng kể từ năm 2000, từ 39,3% xuống 35,5%. Ngành công nghiệp giảm thị phần 10,4 pp – từ 23,6% xuống còn 13,2% vào năm 2022. Trong cùng kỳ, thị phần của ngành vận tải tăng 8,3 pp, ngành dịch vụ tăng 4,7 pp và ngành nông nghiệp tăng 1,2 pp.

Ảnh 1: Mức tiêu thụ năng lượng cuối cùng theo từng lĩnh vực (có điều chỉnh theo khí hậu)
Hiệu quả năng lượng đối với người tiêu dùng cuối cùng, được đo bằng ODEX, đã cải thiện trung bình 1,9% mỗi năm từ năm 2000 đến năm 2022. Trong công nghiệp, tốc độ cải thiện hiệu quả năng lượng là cao nhất (5,6% mỗi năm kể từ năm 2000); tiến triển trong các ngành khác thấp hơn nhiều: khoảng 0,8%/năm trong ngành vận tải, 0,7%/năm đối với hộ gia đình, trong khi trong ngành dịch vụ, hiệu quả năng lượng vẫn ở mức năm 2000.

Ảnh 2: Chỉ số hiệu quả năng lượng kỹ thuật
Về hiệu quả năng lượng, Estonia đặt mục tiêu đến năm 2030 duy trì mức tiêu thụ năng lượng cuối cùng ở mức 32 đến 33 TWh/năm. Theo nội dung mới của Chỉ thị Hiệu quả Năng lượng của EU (2023), nghĩa vụ tiết kiệm năng lượng của Estonia cũng sẽ được thắt chặt hơn, và mức tiêu thụ năng lượng cuối cùng tối đa cho phép vào năm 2030 sẽ là 30 TWh thay vì 33 TWh trước đây. Năm 2022, mức tiêu thụ năng lượng cuối cùng của Estonia đạt 31.87 Twh, tức là mức tiêu thụ năng lượng cuối cùng vẫn giữ nguyên như trong mười năm qua.
Tuy nhiên, đã có một số thay đổi về cơ cấu trong tiêu thụ năng lượng cuối cùng. Nhu cầu năng lượng của khu vực dịch vụ (đặc biệt là thông tin và truyền thông, thương mại, hoạt động chuyên môn và kỹ thuật) đã tăng lên và tỷ trọng tiêu thụ năng lượng của ngành công nghiệp trong tổng mức tiêu thụ đã giảm. Việc giảm sử dụng năng lượng trong công nghiệp cũng là do giá carbon dioxide tăng đáng kể sau năm 2017 trong khuôn khổ hệ thống giao dịch khí thải của EU. Tác động của đại dịch COVID-19 cũng làm giảm nhu cầu năng lượng công nghiệp trong giai đoạn 2020-2022.
| Các biện pháp | Miêu tả | Tiết kiệm dự kiến, đánh giá tác động |
| GEN-EE5014 yêu cầu đồng hồ điện có thể đọc từ | Để đạt được mục tiêu tiết kiệm năng lượng đặt ra cho năm 2030, cần phải lắp đặt tất cả các đồng hồ đo nước, điện, khí đốt và sưởi ấm trong các tòa nhà và căn hộ có khả năng đọc từ xa trước năm 2026. | Trung bình |
| GEN-EE5015 Hiện đại hóa hệ thống sưởi, thay thế nồi hơi dầu | Mục tiêu của biện pháp này là chuyển đổi hệ thống sưởi của các tòa nhà chung cư và công trình công cộng sang sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo (bao gồm bơm nhiệt) và kết nối với hệ thống sưởi khu vực. | Thấp |
| GEN-EE5023 Thuế nhiên liệu và năng lượng | Thuế VAT và thuế tiêu thụ đặc biệt nộp vào ngân sách nhà nước tuy là gián tiếp nhưng vẫn đóng góp đáng kể cho quỹ tài trợ từ ngân sách để hỗ trợ người tiêu dùng triển khai các biện pháp tiết kiệm năng lượng. | Cao |
Các công trình
Tiêu thụ điện năng riêng trên mỗi m2 sưởi ấm trong các tòa nhà dân cư đã giảm khoảng 20% (tức là 1%/năm) kể từ năm 2000, chủ yếu do việc sử dụng bơm nhiệt ngày càng tăng. Những biến động nhỏ so với xu hướng dài hạn trong một số năm (ví dụ: 2007-2008 và 2019-2020) có thể là do việc chuẩn hóa theo số ngày có nhiệt độ sưởi ấm không “hoàn toàn” điều chỉnh tác động của thời tiết, đặc biệt là khi có những biến động lớn hàng năm. Hình 4 minh họa những thay đổi trong tiêu thụ điện năng cho các mục đích sử dụng khác trong các hộ gia đình (tức là ngoại trừ sưởi ấm). Tỷ lệ sử dụng điện cho các thiết bị gia dụng và chiếu sáng trên mỗi hộ gia đình đã tăng (7,6 pp) do việc sử dụng bơm nhiệt rộng rãi hơn, trong khi mức sử dụng năng lượng cho sản xuất nước nóng trên mỗi hộ gia đình và cho nấu ăn đã giảm (lần lượt là 6 pp và 1,6 pp).

Ảnh 3: Mức tiêu thụ điện năng để sưởi ấm trên mỗi m2 (có điều chỉnh theo khí hậu)

Ảnh 4: Mức tiêu thụ năng lượng cho mỗi hộ gia đình theo mục đích sử dụng cuối cùng (trừ sưởi ấm không gian)
Năm 2022, mức tiêu thụ năng lượng trong khu vực dân cư cao hơn khoảng 0.44 Twh so với năm 2000. Các biện pháp tiết kiệm năng lượng được áp dụng trong các tòa nhà dân cư đã giúp giảm mức tiêu thụ năng lượng nhiều nhất (tổng mức tiết kiệm năng lượng khoảng 2.8 Twh). Đồng thời, các yếu tố khác: ảnh hưởng của khí hậu 0.38 Twh), số lượng nhà ở tăng (1.5 Twh), thay đổi lối sống, nhiều thiết bị điện hơn, nhà ở rộng hơn (0.63 Twh), v.v., đã làm tăng mức tiêu thụ năng lượng của nhà ở.

Ảnh 5: Các yếu tố chính thúc đẩy sự thay đổi mức tiêu thụ năng lượng trong các hộ gia đình
Cả tiêu thụ năng lượng và tiêu thụ điện năng đều tăng lần lượt là 19% và 58% năm 2022 so với năm 2000. Nguyên nhân do các tòa nhà mới sử dụng các trang thiết bị máy điều hòa và việc sử dụng rộng rãi hơn các thiết bị điện khác. Mức tiêu thị năng lượng cuối cùng trong các ngành dịch vụ đã khá ổn định từ năm 2018, theo xu hướng với số lượng nhân viên.

Ảnh 6: Mức tiêu thụ năng lượng và điện trên mỗi nhân viên trong ngành dịch vụ (có điều chỉnh theo khí hậu)
Cho đến nay, chính sách hiệu quả năng lượng trong lĩnh vực xây dựng chủ yếu hướng đến các hộ gia đình thông qua nhiều biện pháp khác nhau nhằm tăng hiệu quả năng lượng của các tòa nhà dân cư. Chính phủ đã quyết định rằng việc đầu tư vào các tòa nhà để cải thiện hiệu quả năng lượng phải tiếp tục, trong khi khu vực công phải dẫn đầu trong việc bảo trì và xây dựng các tòa nhà. Việc đầu tư vào hiệu quả năng lượng của các tòa nhà chung cư cũng phải được tiếp tục và cần tìm ra các cơ hội để mở rộng các biện pháp của nhà nước nhằm thúc đẩy hiệu quả năng lượng trong các ngôi nhà gia đình. Trong lĩnh vực sưởi ấm, các khoản đầu tư vào việc phát triển hoặc cải tạo các hệ thống sưởi ấm khu vực được hỗ trợ. Việc lập kế hoạch phát triển địa phương để cung cấp năng lượng cho các thành phố được Chính phủ trung ương hỗ trợ tài chính. Ngoài ra, chính phủ cũng có kế hoạch hỗ trợ các hệ thống cung cấp nhiệt tại địa phương, như các giải pháp thay thế cho hệ thống sưởi ấm khu vực, nếu đây là những giải pháp bền vững nhất cho khu vực và đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường.
| Các biện pháp | Miêu tả | Tiết kiệm dự kiến, đánh giá tác động |
| HOU-EE5028 Chương trình bảo vệ không khí, bao gồm thiết bị sưởi cho các hiệp hội chung cư | Mục tiêu của biện pháp này là hỗ trợ các hoạt động nhằm giảm tác động tiêu cực đến môi trường do tiêu thụ năng lượng (xây dựng các hệ thống làm sạch khí thải của thiết bị đốt, áp dụng kỹ thuật tối ưu, cải tạo hoặc xây dựng nhà nồi hơi không kết nối với mạng sưởi khu vực để sản xuất nhiệt từ nhiên liệu gỗ, xây dựng hệ thống sưởi cục bộ dựa trên bơm nhiệt địa nhiệt nếu không thể kết nối với mạng sưởi khu vực – bơm nhiệt sẽ được sử dụng để vận hành năng lượng sạch) và hỗ trợ việc sử dụng năng lượng hiệu quả hơn. | Thấp |
| HOU-EE5149 Cải tạo các tòa nhà chung cư 2021–2030 | Cải tạo các tòa nhà chung cư với sự hỗ trợ của nhà nước. Mục tiêu là cải tạo các tòa nhà đạt ít nhất mức năng lượng loại C. 30% chi phí công việc được hỗ trợ – ở một số khu vực, mức hỗ trợ còn cao hơn (lên đến 50%). | Cao |
| HOU-EE5147 Trợ cấp tái thiết nhà ở nhỏ 2021–2030 | Mục đích của biện pháp này là hỗ trợ các hoạt động với sự hỗ trợ của nhà nước nhằm cải thiện chất lượng nhà ở và giảm tiêu thụ năng lượng thông qua việc nâng cao hiệu quả năng lượng của các ngôi nhà nhỏ. | Cao |
| SER-EE5035 Cải tạo các tòa nhà mẫu giáo | Mục tiêu của biện pháp này là nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng thông qua đầu tư vào các tòa nhà thuộc khu vực công, giảm năng lượng cung cấp cho tòa nhà và chi phí bảo trì, hoặc thúc đẩy việc sử dụng năng lượng tái tạo. Hỗ trợ được cung cấp để đạt được mục tiêu của biện pháp. | Cao |
| SER-EE5030 Hiện đại hóa hệ thống chiếu sáng đường phố | Mục tiêu của biện pháp này là nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng thông qua đầu tư vào các công trình công cộng, giảm năng lượng cung cấp cho tòa nhà và chi phí bảo trì, hoặc thúc đẩy việc sử dụng năng lượng tái tạo. Hỗ trợ được cung cấp để đạt được mục tiêu của biện pháp. | Cao |